Tranh tụng là gì

Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Loại tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ đại. Ở thời đấy, nguyên cáo bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào chữa trước tòa án. Sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ.

Ở Việt nam, có thể nhận xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:

Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay.

Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”; còn theo Hán-Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”.

Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đặc thù của tố tụng dân sự là các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng cùng nhau xác định sự thật khách quan trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tích cực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án. Tất cả các hoạt động như cung.

cấp chứng cứ, đưa ra các yêu cầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên…trong giai đoạn trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng. Như vậy, tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử,xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

Theo nghĩa hẹp:tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự được hình thành trên những cơ sở sau đây:

  • Quyền được xét xử bình đẳng và công bằng của pháp luật;
  • Đặc trưng của tố tụng dân sự: khi giải quyết  một vụ việc dân sự chính là giải quyết mối quan hệ giữa các đương sự với nhau. Chính vì vậy lợi ích trong mối quan hệ này là lợi ích tư chứ không phải lợi ích công. Do đó để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình, các bên đương sự được quyền chính minh các lợi ích đó của mình là hợp pháp trước Tòa án.

Về nội dung cơ bản của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự được thể hiện:

-Đảm bảo cho đương sự được biết và trình bày ý kiến về yêu cầu và chứng cứ của người khác đối với mình;

– Đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong việc thực hiện trong tụng thể hiện ở hai điểm: (i) pháp luật đảm bảo cho các đương sự có các quyền bình đẳng với nhau ở các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; (ii) quyền bình đẳng của các đương sự được đảm bảo thực thi trên thực tế.

– Tòa án đảm bảo thực hiện quyền tranh tụng của đương sự một cách bình đẳng, công khai, đúng pháp luật

Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự ở giai đoạn khởi kiện

Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự ở giai đoạn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt nam.

Khởi kiện là bước khởi đầu của quá trình tranh tụng trong tố tụng dân sự, nếu tòa án trả lại đơn kiện cho người khởi kiện không thụ lý vụ án thì cũng có nghĩa là không có quá trình tranh tụng tiếp theo.

Khởi kiện được quy định tại Chương XII khởi kiện và thụ lý vụ án từ Điều 161 đến Điều 170 của Bộ Luật Tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2011.

 “Điều 161. Quyền khởi kiện vụ án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”

Từ quy định trên của  pháp luật chúng ta có thể thấy người tự cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị chủ thể khác xâm phạm có thể tự mình khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi bị xâm phạm hoặc là thông qua người đại diện hợp pháp của mình khởi kiện vụ án.

Pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành quy định rất rộng chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ tối đa quyền lợi của công dân Việt Nam khi họ bị xâm phạm.

Người khởi kiện muốn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình thì cần phải có đơn khởi kiện và trong đơn cần phải trình bày đầy đủ chi tiết những nội dung liên quan, những yêu cầu và những chứng cứ chứng minh cho việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Thông qua nội dung của đơn khởi kiện chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chủ thể khởi kiện đã tự mình hoặc thông qua người đại diện thực hiện quyền tranh tụng theo quy định của pháp luật khi đưa ra các nội dung, các yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho việc bị chủ thể khác xâm hại.

Ngoài ra để đảm bảo quyền tranh tụng của các chủ thể khác Bộ Luật Tố tụng dân sự cũng đã quy định cho các tổ chức khác khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước ( điều 162, Bộ Luật Tố tụng dân sự).

Vấn đề thụ lý vụ việc dân sự theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hiện nay cũng đang có một số tồn tại nhất định:

Bộ luật TTDS quy định tại điều 174 về nhiệm vụ của Tòa án ngay sau khi thụ lý vụ án trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án biết việc tòa án đã thụ lý vụ án. Tuy nhiên, văn bản thông báo của Tòa án chỉ nêu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng tên tài liệu chứng cứ kèm theo. Do vậy, để người nhận được thông báo nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông báo là rất khó bởi họ phải đến tòa án “xin phép” Tòa án cho chụp, sao chép các tài liệu của nguyên đơn. Trong thực tế không phải Tòa án nào cũng tạo điều kiện cho họ sao chụp tài liệu, chứng cứ. Vấn đề này đã dẫn đến việc đương sự không thực hiện được quyền tranh tụng của mình như quyền sao chụp tài liệu, quyền được biết chứng cứ do phía bên kia cung cấp để từ đó đưa ra các yêu cầu phản tố phù hợp và các chứng cứ thích hợp để chứng minh.

Khoản 2 điều 174 BLTTDS quy định về hậu quả pháp lý khi người nhận thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu, nhưng lại chưa quy định rõ hậu quả là gì? Theo ý kiến của nhóm hậu quả ở đây có thể hiểu theo hướng bất lợi cho người được thông báo  mà không có văn bản trả lời Tòa án. Sự im lặng ở đây có thể xem là đồng ý vì đã không có sự phản đối đối với những yêu cầu của người khởi kiện. Tòa án sẽ giải quyết vụ án vắng mặt một bên theo những tài liêu chứng cứ mà người khởi kiện đưa ra nhằm đảm bảo quyền tranh tụng của người khởi kiện. Do đó, pháp luật cần quy định rõ hơn về vấn đề này

Đương sự có quyền đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Yêu cầu là cơ sở để phát sinh tranh tụng tại Tòa án, các đương sự không chỉ có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ mà còn có quyền thay đổi bổ sung yêu cầu. Tuy nhiên quyền thay đổi bổ sung yêu cầu này không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quy định này nhằm đảm bảo quyền tham gia tranh tụng của bên đương sự đối lập.

Quyền chấp nhận một phần, toàn bộ yêu cầu của đương sự phía bên kia, quyền rút yêu cầu và thỏa thuận về việc giải quyết vụ án của đương sự quyết định đến phạm vi tranh tụng. Việc đương sự chấp nhận yêu cầu hay rút yêu cầu đều dẫn đến việc các đương sự không phải tranh tụng về yêu cầu đó nữa. Còn khi các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thì những vấn đề các đương sự thỏa thuận được với nhau thì cũng không tranh tụng nữa mà chỉ tranh tụng với nhau về những vấn đề có tranh chấp và chứng cứ chứng minh không thống nhất.

Điều 161 – 178 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định khá chi tiết về việc khởi kiện và thụ lý vụ án … nhưng bên cạnh đó vẫn còn một khó khăn và bất cập trong việc áp dụng và thực tiễn thì một số chủ thể có quyền và lợi ích bị xâm phạm gặp rất nhiều khó khăn trong việc để đơn khởi kiện của mình được Tòa án thụ lý.

Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử

Đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Quyền tranh tụng của đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử thể hiện rõ nhất ở vấn đề đương sự cung cấp, thu thập tài liệu chứng cứ, chứng minh để giải quyết vụ án dân sự.

Trong quá trình tranh tụng, các bên đương sự liên tục trao đổi các chứng cứ, tranh luận với nhau về các tình tiết sự kiện liên quan đến vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình. Bộ Luật Tố tụng dân sự đã có những quy định cụ thể về chứng minh và chứng cứ, theo đó nghĩa vụ chứng minh trước hết và chủ yếu thuộc về đương sự Đương sự có quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp và “nếu phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh”( Điều 79 Bộ Luật Tố tụng dân sự). Quy định này đã thể hiện rõ bản chất của tranh tụng đó là sự trao đổi, phản bác chứng cứ, lập luận giữa hai bên đương sự trên có sở các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho mình.

Như vậy, người đưa ra yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước; họ phải xuất trình các chứng cứ, đưa ra lý lẽ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, đồng thời họ phải chỉ ra quy định của pháp luật cho phép chấp nhận yêu cầu của họ (tính hợp pháp của yêu cầu). Khi bên đưa ra yêu cầu đã chứng minh được tính có căn cứ và tính hợp pháp cho yêu cầu của mình thì bên phản đối yêu cầu phải đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ. Điều đó cho thấy, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà đặt ra với cả bên bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Quy định này thể hiện sự bình đẳng, ngang bằng về nghĩa vụ chứng minh, không có loại đương sự nào được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh, dù đương sự đó khởi kiện bảo vệ lợi ích của mình hay lợi ích chung hoặc yêu cầuToà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng không được miễn trừ nghĩa vụ này. Do đó, nếu bên đương sự có nghĩa vụ đưa chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ. Hậu quả đó là, nếu họ là nguyên đơn sẽ bị bác yêu cầu, nếu là bị đơn sẽ bị xử thua kiện, sẽ phải chấp nhận các yêu cầu đã được chứng minh của nguyên đơn. Nhưng việc thu thập chứng cứ của các bên đương sự không phải lúc nào cũng dễ dàng bởi gặp phải những khó khăn từ phía cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền. Điều 7 Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền, nếu không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án biết và nêu rõ lý do. Trên thực tế, có rất nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không thực hiện đúng trách nhiệm này khi đương sự có yêu cầu và cũng không trả lời bằng văn bản cụ thể cho đương sự biết mà chỉ từ chối bằng cử chỉ, lời nói.

Điều 80 Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định những tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh, điều này đồng nghĩa với việc các đương sự không phải tranh tụng về các tình tiết, sự kiện đó nữa, phạm vi tranh tụng được thu hẹp hơn, đương sự chỉ tập trung vào các tình tiết, sự kiện còn chưa rõ, mâu thuẫn.

BLTTDS không quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự, trên thực tế có thể dấn đến việc đương sự lơi dụng trì hoãn hoạt động tố tụng. ví dụ như trường hợp ở trước phiên tòa sơ thẩm đương sự hoàn toàn có khả năng cung cấp chứng cứ đó nhưng lại không cung cấp mà lại cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm khi đang tranh luận làm cho tòa án phải hoãn phiên tòa nếu như chứng cứ đó cần có thời gian xác minh rõ. Hay việc đương sự không cung cấp chứng cứ ở giai đoạn sơ thẩm mà đến giai đoạn phúc thẩm mới đưa ra chứng cứ đó làm cho án sơ thẩm bị sửa hoặc hủy để xét xử lại.

Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ: Ls. Tú: 0976 085 206 

LUẬT THÁI HÀ

------------------------------------------------------------------------------------------------------------

HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN
CÔNG TY LUẬT THÁI HÀ

Tầng 7, tòa nhà TOP Office, số 83 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

-------------- LIÊN HỆ DỊCH VỤ: 0976 085 206
Gửi yêu cầu dịch vụ qua Email : tupham@thaihalaw.com
Hệ thống thông tin website : http://luatthaiha.vn
http://thaihalaw.com

Tin liên quan